Hotline : 0972 208 266

Địa chỉ : Lô D2 - KCN Hapro - Lệ Chi - Gia Lâm - Hà Nội

– Trong những năm gần đây chăn nuôi hữu cơ (CNHC) trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những bước tiến đáng kể góp phần vào sự thành công của nền nông nghiệp hữu cơ toàn cầu. Vai trò và lợi ích của CNHC cơ ngày càng được khẳng định trên toàn thế giới và là xu hướng tất yếu, không thể thay thế ở mọi quốc gia.

 Vai trò và lợi ích của chăn nuôi hữu cơ

 

Chăn nuôi lợn hữu cơ tại HTX Trường Thành (Bắc Giang)

Chăn nuôi hữu cơ góp phần giải quyết các thách thức mà cả thế giới phải đối mặt như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm không bền vững… Ngoài ra, CNHC còn tạo ra mối quan hệ công bằng giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, với môi trường sinh thái, với vật nuôi và các mối quan hệ khác. CNHC không chỉ bảo vệ sức khỏe và phúc lợi của vật nuôi mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng, lợi nhuận cho người sản xuất và tính bền vững cho môi trường

Chăn nuôi hữu cơ góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học, lưu giữ các nguồn gen quý vì nó khuyến khích người nuôi lựa chọn đa dạng giống vật nuôi kết hợp với quy trình chăn nuôi gắn với tự nhiên qua đó góp phần lưu giữ, bảo tồn các nguồn gen quý của mỗi quốc gia.

Chăn nuôi hữu cơ góp phần bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm và tính bền vững của hệ thống nông nghiệp, hạn chế các thách thức như dịch bệnh toàn cầu, biến đổi khí hậu toàn cầu vì CNHC giúp tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên như nguồn nước, đất đai, không khí… qua đó góp phần làm giảm tốc độ của tình trạng nóng lên toàn cầu.

Chăn nuôi hữu cơ là cách tiếp cận bền vững, vì nó không những tạo sinh kế, cơ hội việc làm và thu nhập ổn định lâu dài cho các hộ nông dân quy mô vừa và nhỏ mà còn giúp họ được làm việc trong một môi trường kinh tế xã hội an toàn.

Một số đặc điểm cơ bản của chăn nuôi hữu cơ

Năng suất CNHC thấp hơn so với chăn nuôi truyền thống nhưng chất lượng sản phẩm tốt hơn

Bảng: So sánh một số chỉ tiêu giữa chăn nuôi hữu cơ và chăn nuôi truyền thống

Loại vật nuôi Chỉ tiêu CNHC/ chăn nuôi thôngthường(%)

Min – Max

Bò sữa Sản lượng sữa 68 – 95
Hàm lượng chất béo trong sữa 96 – 110
Hàm lượng protein sữa 96 – 106
Bò thịt Tăng khối lượng 78 – 88
Lợn nái Tiêu tốn thức ăn 120 – 129
Số lợn con cai sữa 70 – 98
Lợn thịt Tiêu tốn thức ăn/kg 98 – 111
Gà thịt Tăng khối lượng 76 – 84
Tiêu tốn thức ăn/kg 140 – 153

 

– Công tác giống: Theo quy định của IFOAM,  công tác chọn vật nuôi phải được coi trọng hàng đầu. Con giống cần có xuất sứ rõ ràng từ các trang trại được công nhận đã áp dụng quy trình sản xuất giống theo hướng hữu cơ. Không sử dụng con giống từ các cơ sở sản xuất giống thông thường.

– Thức ăn, dinh dưỡng: Tương tự như con giống, nguyên liệu để sản xuất thức ăn cho vật nuôi hữu cơ phải có xuất sứ rõ ràng, có thể truy xuất nguồn gốc. Không được phép sử dụng ngũ cốc biến đổi gen, kháng sinh, các chất hóa học bị cấm như chất kích thích sinh trưởng, chất tạo nạc, chất bảo quản, chất tạo màu…

– Công tác quản lý, chăm sóc vật nuôi: Khuyến khích phát triển trang trại chăn nuôi theo hướng hoàn toàn khép kín, tự cung tự cấp, chăn thả tự nhiên. Hạn chế nuôi nhốt, giảm thiểu căng thẳng cho vật nuôi. Trong công tác phòng trừ bệnh cần hạn chế tiến tới loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng kháng sinh, các loại hóa chất, thuốc thú y có hại cho vật nuôi và người tiêu dùng. Đảm bảo các quy định về mật độ chăn nuôi, nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng, các quy định về giết mổ để đáp ứng các tiêu chuẩn liên quan đến phúc lợi vật nuôi.

Một số thành tựu của chăn nuôi hữu cơ

Trên thế giới

Dữ liệu mới nhất về nông nghiệp hữu cơ thế giới vừa được Viện Nghiên cứu nông nghiệp Hữu cơ (FiBL) và Tổ chức hữu cơ toàn cầu IFOAM (International Federation of Organic Agriculture Movements) công bố cho thấy đến hết năm 2020 lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ nói chung và chăn nuôi hữu cơ đã đạt được kết quả đáng khích lệ.

Thị trường sản phẩm hữu cơ toàn cầu tiếp tục tăng trưởng với mức 11,8%/năm,  tổng giá trị ước đạt 117 tỷ USD, trong đó phần lớn là sản phẩm trồng trọt hữu cơ (91,5%), sản phẩm chăn nuôi hữu cơ còn ở mức khiêm tốn 3,4 % tương đương giá trị trên 4 tỷ USD. Các nước châu Âu vẫn là khu vực có nền CNHC phát triển cả về số lượng cũng như giá trị. Khu vực này có tổng đàn trâu, bò hữu cơ đạt gần 9 triệu con (chiếm 8,8% tổng đàn), đàn cừu 5,9 triệu con (chiếm 9,6% tổng đàn), đàn lợn đạt 1,6 triệu con  (chiếm 0,6% tổng đàn) và gia cầm 20,7 triệu con (chiếm 10,3% tổng đàn).

Đối với ong mật, hiện có 3,9 triệu đàn ong trên thế giới được chứng nhận là ong hữu cơ, chiếm 3,8% tổng đàn ong, trong đó 45% của các nước Mỹ la tinh, 30% của châu Âu và 9% của châu Á. Nước có số lượng đàn ong hữu cơ lớn nhất là Braxin (gần 1 triệu đàn) tiếp theo là Zambia (0,45 triệu đàn) và Mexico (0,42 triệu đàn). Trong giai đoạn 2017-2020, 3 nước có tốc độ tăng trưởng về nuôi ong hữu cơ lớn nhất đó là Braxin, Trung Quốc và Zambia.

Về sản phẩm thủy sản: Thế giới năm 2020 đạt 1,35 triệu tấn, trong đó 86% từ các nước châu Á, chủ yếu từ Trung Quốc (1,02 triệu tấn),Việt Nam xếp thứ 7 trên thế giới và thứ 2 châu Á với sản lượng trên 10.000 tấn. Về chủng loại sản phẩm, nhiều nhất là cá hồi trên 6%, sò 3% và rong biển 2%.Tốc độ tăng sản lượng thủy sản hữu cơ giai đoạn 2015-2020 bình quân toàn thế giới đạt 42%.

Tại Việt Nam

Theo công bố của Bộ NNN&PTNT, tỷ lệ sản phẩm CNHC đạt khoảng 1 – 2% so với tổng sản phẩm chăn nuôi. Các sản phẩm chăn nuôi tiềm năng, đã được chứng nhận hữu cơ và được ưu tiên như sữa, mật ong, yến sào, thịt gia súc, gia cầm

Đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm: Hiện có 15 tỉnh thành có mô hình chăn nuôi lợn hữu cơ với quy mô trên 75.000 con, sản lượng thịt hơi đạt 7.000 tấn, 12 tỉnh, thành có mô hình chăn nuôi gà hữu cơ với 373.000 con, sản lượng thịt hơi gần 1000 tấn. Hai tỉnh Nghệ An và Lâm Đồng được các tổ chức quốc tế công nhận có mô hình chăn nuôi bò hữu cơ  với quy mô 3.500 bò sữa.

Đối với ong mật ong mật:  Hiện tại Việt Nam có tổng số 1,4 triệu đàn ong với sản lượng mật ong đạt 55.000 tấn trong đó 90% được xuất khẩu. Mặc dù Việt Nam là nước xuất khẩu mật ong thứ 6 thế giới và thứ 2 châu Á tuy nhiên vẫn là mật ong truyền thống. Nuôi ong hữu cơ chưa phát triển, thời gian gần đây đã có một số cơ sở bắt đầu áp dụng nuôi ong theo tiêu chuẩn VietGAP, đây là tiền đề tiến tới nuôi ong hữu cơ. Để tiếp tục duy trì lợi thế xuất khẩu, ngành ong cần nhanh chóng áp dụng các quy định về nuôi ong hữu cơ thế giới.

Đối với nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản hữu cơ đạt khoảng 0,5 – 1,5% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, trong đó tập trung một số loài đặc sản có giá trị kinh tế như: tôm nước lợ, tôm càng xanh, các loài thủy sản bản địa… Cũng giống như ong mật mặc dù là nước có sản lượng xuất khẩu lớn, nhưng cả nước mới chỉ có 4 tỉnh có mô hình nuôi trồng thủy sản hữu cơ với diện tích  134.800 ha. Nếu không nhanh chóng chuyển đổi, Việt Nam sẽ mất lợi thế này trong tương lai ngắn hạn.